Nhà Thơ Nổi Tiếng

Nhà thơ Phan Văn Trị cùng những trang thơ ấn tượng phần 1

Phan Văn Trị 潘文值 (1830-1910) đỗ cử nhân khoa Kỷ Dậu (1849) tại trường thi Gia Định. Ông là một nhà thơ nổi tiếng có giá trị đặc biết trong phong trào chống Pháp. Đến nay, nhiều sáng tác của ông chưa sưu tầm hết, nhưng với trên dưới 50 bài thơ. Đọc thơ ta cảm nhận được rằng nhà thơ có một nhận thức sáng suốt, một lập trường kiên định, một tinh thần tự hào lạc quan, một khí phách hiếm thấy và một ý thức trách nhiệm công nhân đầy đủ đối với dân tộc và đất nước. Cùng nhau theo dõi nhé!

Nội Dung

Lênh đênh bèo nước biết là đâu,
Đậu bến An Giang thấy những rầu.
Bảy núi mây liền chim nhíp cánh,
Ba dòng nước chảy cá vinh râu.
Có rau nội quanh dân xanh mặt,
Không trái bần khô khỉ bạc đầu.
Xem hết cảnh tình rồi nghĩ ngợi,
Thú vui chỉ có một thuyền câu.

Trung trinh dốc trọn đạo tôi dân,
Nạn khổ xưa nay biết mấy lần.
Ở Hớn đành lòng phò lợn Hớn,
Oán Tần ra sức đuổi hươu Tần.
Nhìn Nam chạnh tủi nhành hoa ủ,
Ngó Bắc ngùi thương đám bạch vân.
Cái nợ tang bồng than thở phận
Đành đem dập dã giữa phong trần.

Phong trần lắm lúc luống sầu riêng,
Biết mượn tay ai gỡ mối phiền?
Áo mũ ba đời, ơn rất trọng,
Can qua một cuộc, nghĩa chưa tuyền.
Trớ trêu, con tạo lòng đa xảo,
Tráo trở, anh hùng buổi thiếu niên!
Phất phới bụi hồng đà trải dấu,
Tâm tình chiều uốn thú hàn huyên.

Hàn huyên nghĩ phận luống bâng khuâng,
Tình cảnh xem qua lệ ngập ngừng.
Roi vọt dứt lòng chưa phải vận,
Dây oan rối mối hãy lo chừng.
Nỡ nghe tiếng loạn đem tai rửa,
Đành thấy thằng gian để mắt trừng.
Mấy mặt anh hùng sao nếp dấu,
Vạc nghiêng há dám một tay nâng?

Tay nâng, há dám một mình đây?
Kẻ Bắc người Nam bấn dạ nầy.
Thế sự lăng xăng cờ túng nước,
Nhân tình tráo chác gió rung cây.
Giao hoà, bởi sợ mưu mô cạn,
Cắt đất, vì kiêng trí lực dày.
Ướm hỏi những ai trên đất Việt,
Tấm lòng thiết thạch há như vầy?

Như vầy trung nghĩa bấy lâu nay,
Dầu những người xưa cũng sánh tày.
Trướng vải lai rai cơn gió thổi,
Cảnh thu hiu hắt hột mưa bay.
Sông sâu sóng ngã thuyền câu dập,
Đồng rộng hùm sa lũ chó vây.
Kìa nước, nọ non, cờ cuộc thế,
Đầy vơi tròn khuyết có sai rầy.

Sai rầy cũng bởi cuộc phân băng,
Quỷ dự nhân vì lúc ái tăng.
Gió bụi trăm chiều quen mặt cũ,
Đá bia một tiết giữ lòng hằng.
Hòn Nghê gọi chút tình mây nước,
Bến Nghé buồn riêng phận cỏ săng.
Cung kiếm cầm thi cam hổ phận,
Sao cho tỏ rạng bậc tài năng.

Tài năng chi đó khéo trêu ngươi!
Cái phận nam nhi luống nực cười:
Ngược đậu, xuôi đi hiềm thế nước,
Sâu dầm, cạn vén, thuận tình đời.
Quan san dặm thẳng đường liền bước,
Tùng cúc vườn xưa cảnh nhớ người.
Tạo hoá một bầu xoay khí vận,
Đông qua xuân lại một màu tươi.

Màu tươi sắc tốt dám se sua,
Giàu cũng không khoe, khó chẳng dua.
Mấy kỷ tuyết sương bền chí trẻ,
Chín từng mưa móc gội ơn vua.
Thủy lưu xa ruổi ngoài ngàn dặm,
Tòng bá cao xây giữa bốn mùa.
Lời sáng nết cao tùy thuở biến,
Mặc người lưỡi múa lại môi khua.

Môi khua khéo học dạng cầu vinh,
Tiêu trưởng cơ trời dễ dám khinh.
Ấn hổ xa ban miền Bắc khuyết,
Cờ chiêu an dẹp mé Nam minh.
Trăm năm bởi gặp khi nguy biến,
Bốn biển chưa gây cuộc diễm tình.
Nhà nước một mai xoay vận thế,
Cõi Nam chung hưởng hội thăng bình.

Chẳng biết cơ trời khéo khiến sao,
Trải qua mấy xứ cũng cào cào.
Hình như châu chấu vàng pha xám,
Miệng tợ chuồn chuồn thấp lại cao.
Hại lúa bởi ngươi nên cắc cớ,
Nhọc lòng cho kẻ đuổi lao xao.
Lời ngay dám hỏi quan lương thú,
Đuổi đó phòng toan đến chốn nào.

Nam vô hai chữ biết vì đâu
Cám nỗi chùa hư Phật phải rầu
Nắng rọi mõ chuông khô nứt mặt
Mưa sa kinh kệ ướt mem đầu
Rằm nguyên vắng kẻ dâng vùa nếp
Hôm sớm không ai cúng phụng dầu
Đức cả từ bi xin sớm liệu
Ngồi chờ Lương Võ thế còn lâu

Mấy từng đài các sải chơn leo,
Nhảy lẹ chi cho bẵng giống mèo.
Chợt ngảnh mặt hùm nhìn trực thị,
Chi cho lũ chuột dám vang reo.
Vuốt nanh sẵn có vàng khoe sắc,
Vằn vện đành không bụi đóng meo
Trăm tuổi hồn dầu về chín suối,
Nhắm lông để lại giúp trò nghèo.

Muỗi hỡi thân ngươi sướng mọi điều,
Thiếu chi chi nữa hãy còn kêu.
Giường ngà chiếu ngọc từng nương đậu,
Má phấn đào non cũng ấm yêu.
Béo miệng chẳng thương con trẻ dại,
Cảnh hồng nào đoái chúng dân nghèo.
Ngày sau hẳn gặp nhằm xơ quất,
Xử tội nhà ngươi mắt chẳng nheo.

Mặt mũi như vầy cũng có râu,
Trong đời chẳng biết dụng vào đâu.
Hêu đòi trên mão chưa nên mặt,
Lúc thúc trong chăn cứ rục đầu.
Khuấy ngứa gầy dân chi khác mọt,
Rán công béo nước chẳng bằng trâu.
Uổng sanh cho nhộn trong trời đất,
Có có không không cũng chẳng cầu.

Công danh trên thế đố ai tày,
Ra gạo cũng nhờ cái cối xay.
Một trận chí sờn cơn gió bụi,
Trăm vòng nào nại sức lung lay.
Mòn răng nợ chủ lòng mong trả,
Trặc họng khen ai khéo đặt bày.
Bao quản thớt trên mòn thớt dưới.
Hiềm vì còn giặt phải ra tay.

Đồng loại sao ngươi chẳng ngỡ ngàng,
Hay là một lứa phải nung gan?
Trương vi so đọ vài gang nước,
Đâu miệng hơn thua nửa tấc nhang.
Rán súc giây lâu đà tróc vảy,
Nín hơi trót buổi lại phùng mang.
Ra tài cửa Võ chưa nên mặt,
Cắc cớ khen cho khéo nhộn nhàng.

Đằm thắm mưa xuân trổ mấy màu,
Vì tài vì sắc mới kình nhau.
Đua chen một nước toan giành trước,
Lừng lẫy đôi hơi chẳng chịu sau.
Mường tượng rồng đua nơi biển thẳm,
Mỉa mai cù dậy mé sông sâu.
Thở hơi sóng dợn nhăn lòng nước,
Mắt thấy ai ai cũng cúi đầu.

Quan truyền lính thú tại mô voi,
Làng nhắm chỗ ni đã phát mòi.
Sớm đón ghe lên xin quít núm,
Chiều ngăn thuyền xuống kiếm dưa còi.
Tả biên nghiêm chỉnh chiên cùng trống,
Hữu dực phô trì giáo với roi.
Doạ hẩm đàn bà nên quá giỏi,
Nghe hơi ăn cướp chạy dường thoi.

Thương thay đất Gia Định,
Tiếc thay đất Gia Định!
Vực thẳm nên cồn;
Đất bằng nổi sóng.
Tàu khói chạy mây tuôn sông mấy khúc, lờ lạt bến Trâu;
Dây thép giăng chớp nháng đất ngàn trùng, ngã xiêu thành Phụng.
Bờ cõi phân chia khác mắt, trông ra như quáng như mù;
Giang sơn dời đổi lạ mày, tưởng tới dường mê dường tủng.
Lớp cũ tàn, lớp mới mọc, ngổn ngang xe ngựa đất gò bằng;
Dấu trước lắp, dấu sau bồi, tan nát cửa nhà trời sấm động.
Ấm á súng rền kinh cửa bắc, hãi hùng trăm họ dứt câu ca;
Tò le kèn thổi tối trời nam, ngơ ngác năm canh không tiếng trống.
Hào kiệt tìm phương lánh mặt, sa cơ gió hạc lúc hư kinh;
Anh hùng kiếm chốn ẩn thân, sút thế nước cờ cơn lúng túng.
Từ Bến Thành trải qua chợ Sỏi, loài tanh hôi lang lệ biết bao nhiêu;
Nơi Chợ Lớn sắp tới cầu Kho, quân mọi rợ lẫy lừng khôn xiết những.
Cầu Thị Nghè cùng nơi Chợ Quán, chúa Giê-su đắc ý vênh râu;
Chúa Cẩm Đệm trải tới Cây Mai, phật Bồ Tát phải nghèo ôm bụng.
Nơi nơi nổi xóm đạo nhà thờ;
Chốn chốn lập chùa thiêng miếu thánh.
Dọc dọc ngang ngang mấy lớp, thảy đều chúng nó lâu đài;
Văn văn võ võ hai bên, nào thấy quan ta võng lọng.
Ngậm ngùi thay ba bốn làng Gò Vấp, cây cỏ khô, thân thế đều khô;
Bát ngát nhẽ mười tám thôn Vườn Trầu, hoa trái rụng, người đời cũng rụng.
Mấy dặm Gò Đen, Rạch Kiến, ngọn lửa thiêu sự nghiệp sạch không;
Đòi nơi Rạch Lá, Gò Công, trận gió quét cửa nhà trống rỗng.
Tiếng kêu oan, oan này vì nước, hồn nghĩa dân biết dựa vào đâu?
Thân liều thác, thác cũng vì vua, xương nghĩa sĩ chất đà đầy đống.
Sông suối đào, mồ xiêu mả lạc, thương thay kẻ thác chẳng nên hồn;
Đường sá đắp, cửa hai nhà tan, cực bấy người còn không nổi sống.
Sau trước vầy đàng tả đạo, dân ta đòi bữa đòi suy;
Đêm ngày ỏi tiếng Lang Sa, thế nó càng ngày càng lộng.
Cờ Thành Thang sao không thấy phất, bỏ liều con đỏ chốn chông gai;
Áo Võ Vương sao chẳng thấy cài, nỡ để dân đen trong bùn vũng.
Đầu Trung Nguyên tóc đặng còn dài, công này nhờ Chu Bá, học Xuân Thu xin chớ biếm Hoàn Công;
Tay bên tả áo kia khỏi mặc, việc ấy bởi ai, học Luận Ngữ cớ sao chê Quản Trọng?
Bóng xế dặm ngàn man mác, nước non này ai thấy chẳng buồn;
Trời chiều thuyền nhẹ lăng xăng, tình cảnh ấy lòng nào chẳng động?
Nay ta có cảm việc đời,
Vậy mới tả một bài để chúng:
“Dắng dỏi lầu Tây tiếng địch xoang,
Đoái trông thấp thoáng bóng dương tàn.
Giang sơn tám cõi êm tì báo,
Thế giới ba ngàn nổi sói lang.
Áy náy người lo ơn cúc dục,
Bâng khuâng kẻ tưởng nghĩa quân vương.
Ai về bến bắc thăm người Võ,
Hỏi cán cờ mao trải mấy sương?”

Hơn thua chưa quyết đó cùng đây,
Chẳng đã, nên ta mới thế này.
Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy,
Cồn Rồng dầu mặc bụi tro bay.
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thủa,
Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ,
Lòng ta sắt đá há lung lay!

Lung lay lòng sắt đã mang nhơ,
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ.
Người trí mảng lo danh chẳng chói,
Đứa ngu mới sợ tuổi không chờ.
Bài hoà đã sẵn trong tay thợ,
Việc đánh hơn thua giống cuộc cờ.
Chưa trả thù nhà đền nợ nước,
Dám đâu mắt lấp lại tai ngơ.

Tai ngơ sao được lúc tan tành,
Luống biết trách người chẳng trách mình.
Đến thế còn khoe danh đạo nghĩa,
Như vậy cũng gọi cửa trâm anh.
Khe sâu vụng tính dung thuyền nhỏ,
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành.
Thân có, ắt danh tua phải có,
Khuyên người ái trọng cái thân danh.

Thân danh chẳng kể, thiệt thằng hoang!
Đốt sáp nên tro luỵ cẳhng càn…
Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa,
Một nhà danh giáo xáo tan hoang.
Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc,
Người khó xăn văn mới gặp vàng.
Thương kẽ đồng văn nên phải nhắc,
Dễ ta đâu dám tiếng khoe khoang.

Trên đây chúng tôi đã chia sẻ đến các bạn những trang thơ ấn tượng của nhà thơ Phan Văn Trị. Ông nổi tiếng trong cuộc bút chiến chống Tôn Thọ Tường (1825-1877). Sáng tác của ông có thể chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu, phần lớn là những bài thơ vịnh cảnh, vịnh vật nhằm gởi gắm tâm sự, tỏ hoài bão, chí hướng của mình, phê phán bọn thống trị bất tài, dốt nát, hám danh lợi. Khi đất nước rơi vào vòng nô lệ, ông chuyển hẳn ngòi bút sang chống bọn cướp nước và đám tay sai. Mời các bạn đón xem phần 2 vào một ngày gần nhất nhé!

Related posts

Hoa đăng (1959) – Tập thơ Vũ Hoàng Chương hay đặc sắc nhất phần 3

admin

Nhà thơ Thái Bá Tân và tuyển tập thơ dịch Eduardas Mieželaitis phần cuối

admin

Nhà Thơ Thanh Thảo Cùng Những Chùm Thơ Đặc Sắc Phần 4

admin

Leave a Comment