Nhà Thơ Nổi Tiếng

Nhà thơ Phan Văn Trị cùng những trang thơ ấn tượng phần 2

Phan Văn Trị là một thi sĩ yêu nước được mọi nguwoif kính trọng và mến mộ. Thơ ông là lời phát ngôn của phong trào chống Pháp rộng lớn của sĩ phu và nhân dân Nam Kỳ ở cuối thế kỷ XIX. Phan Văn Trị rất xứng đáng đứng trong hàng ngũ những nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng văn học yêu nước chống xâm lược thời cận đại bên cạnh Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích. Hãy cùng nhau tham khảo những trang thơ của ông nhé!

Nội Dung

Khoe khoang việc phải, mới rằng khôn,
Kẻ vạy người ngay há một phồn!
Hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ,
Hùm như thất thế dễ thua ch62n.
Người Nhan xá ngại dao kề lưỡi,
Họ Khuất nào lo nước đến trôn.
Tháy máy gặp thời ta sẽ động,
Muốn nên việc lớn chớ bôn chôn.

Bôn chôn cũng bởi bận vì nhà,
Dám trách người xưa chửa tính xa?
Hăm hở hãy đang hăng sức trẻ,
Chịu lòn e cũng mỏn hơi già.
Mồi thơm cá quý câu không ngạy,
Cung yếu chim cao bắn chẳng sa?
Đáy giếng trông trời giương mắt ếch,
Làm người như vậy cũng rằng là…

Rằng là người trí cũng xa lo,
Nhuần nhã kinh luân mới phải trò.
Ngay vạy nảy ra cho biết mực,
Thấp cao trông thấy há rằng đo.
Xe Châu nào đợi kinh năm bộ,
Níp Tống vừa đầy sách nửa pho.
Chuốc miệng khen người nên cắc cớ:
Đạo trời ghét vạy há soi cho!

Soi cho cũng biết ấy là người,
Chẳng tiếc thân danh, luống sợ cười;
Ba cõi may dầu in lại cũ,
Đôi tròng trông đã thấy không ngươi.
Ngọc lành nhiều vết coi sao lịch,
Thợ vụng ít màu nhuộm chẳng tươi.
Đứa dại chót đời, già cũng dại,
Lựa là tuổi mới một đôi mươi!

Một đôi mươi uổng tính xăn văn,
Đất lở ai mà dễ dám ngăn?
Nong nả dốc vun nền đạo nghĩa,
Xốn xang nào tưởng việc làm ăn.
Thương người vì nước ngồi không vững,
Trách kẻ cầm cân kéo chẳng bằng.
Gió mạnh mới hay cây cỏ cứng,
Dõi theo người trước giữ năm hằng.

Năm hằng vốn thiệt thảo cùng ngay,
Cuộc ấy ai xui khéo bận thầy.
Gặp lúc chẳng may nên ngậm miệng.
Chờ khi tháy máy sẽ ra tay.
Nổi chìm mặc thế tình dày mỏng,
Cao thấp dầu ta sức nhảy bay,
Một trận gió đưa xiêu ngã cỏ,
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây.

Cài trâm sửa trấp vẹn câu tòng,
Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông.
Tơ toả trời Ngô in sắc trắng,
Duyên về đất Thục được màu hồng.
Hai vai tơ tóc bền trời đất,
Một gánh cang thường nặng núi sông.
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết,
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.

Quá bị trên đầu nhát búa voi,
Kinh luân đâu nữa để khoe mòi!
Xăn văn ruổi Nguỵ mây ùn đám,
Dáo dác xa Lưu, gió thổi còi.
Đất Hứa nhớ thân sa giọi tủi
Thành Tương mến chúa nhẹ tay roi!
Về Tào miệng ngậm như bình kín,
Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi?

Tài sắc chi mi, hỡi Thuý Kiều!
Cũng thương mà trách một đôi điều:
Ví dù viên ngoại oan vu lắm,
Sao chẳng Đề Oanh sớ sách kêu?
Cái nghĩa chàng Kim tình đáng mấy,
Lượng vàng họ Mã đáng bao nhiêu!
Liêu Dương ngàn dặm xa chi đó,
Nỡ để Lâm Tri bướm dập dìu!

Giã từ đồng ruộng dạo xa chơi,
Thiên hạ ai mà chẳng biết hơi.
Cởi giáp vàng kia phơi chốn chốn,
Bày da ngọc nọ rạng nơi nơi.
Ông cha giúp nước đà ghi thuả,
Dòng giống nuôi dân biết mấy đời.
Vì thế liều mình cơn nước lửa,
Người đà có thấu hỡi nguời ơi.

Người hỡi Nghiêm Lăng có biết chăng?
Lòng ta ý gã đố ai bằng?
Nửa cần thú vị trời trời nước,
Một sợi kinh luân gió gió trăng.
Thao lược đã đành ngàn dặm bủa,
Giang sơn tóm dốc một tay phăng.
Xưa nay cũng một lòng sông Vị,
Mơ tưởng xe Châu biếng nói năng.

Lỗi phải thây ai chẳng luỵ cầu,
Sao bằng thong thả một cần câu.
Dòng ngân thả lưới dầu trưa sớm,
Đáy bích giềng tơ mặc tóm thâu.
Dựa bãi Nghiêm Lăng chờ bĩ thái,
Neo gành Lã Vọng nhắp công hầu.
Giang san thế để mình là thợ,
Sanh sát quyền ta thế biết đâu.

Tò le kèn thổi tiếng năm ba
Nghe lọt vào tai dạ xót xa
Uốn khúc sông rồng mù mịt khói
Vắng ve thành phụng ủ sầu hoa
Tan nhà cám nỗi câu ly hận
Cắt đất thương thay cuộc giảng hoà
Gió bụi đôi phen xiêu ngã cỏ
Ngậm cười hết nói nỗi quan ta

Vóc là đất cục phải là chi?
Ông Táo danh xưng tự thuở ni.
Lỏng khỏng cõng nồi da mốc thích,
Lum khum đội chảo mặt đen sì
Cháy da với chủ đà ghe thuở.
Phỏng trán cùng dân đã mấy khi.
Sau trước họ hàng chưa rõ đặng
Ba đầu giụm lại giống đi gì?

Trà thô đãi khách giải công lao,
Gây dựng cơ đồ tấm thảo mao.
Mấy cấp lên đài ra sửa nước,
Một tay chế bọt chẳng lo trào.
Lợi nhờ trăm họ khi nồng nực,
Ơn chịu muôn dân buổi khát khao.
Thương khách vãng lai đều thảy biết,
Một mình tri thức đủ anh hào.

Tò te kèn thổi tiếng năm ba,
Nghe lọt vào tai, dạ xót xa.
Uốn khúc sông Rồng mù mịt khói,
Vắng hoe thành phụng ủ sầu hoa.
Tan nhà cám nỗi câu ly hận,
Cắt đất thương thay cuộc giảng hoà.
Gió bụi đời cơn xiêu ngã cỏ,
Ngậm cười hết nói nỗi quan ta.

Dõi về Hoàng Đế chước toan tìm
Nghề nghiệp trong tay đỡ vận chìm
Chắp nối âm dương vài sợi chỉ
Mở mang trời đất một đàng kim
Nhờ ơn cả nước che sương gió
Giúp sức nhà vương đủ áo xiêm
Một thuở ra tay người đặng ấm
Trăm năm đẹp mắt kẻ quan chiêm

Đứa mắc ghẻ ruồi, đứa lác voi,
Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi.
Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc,
Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi.
Trên trính có nhà còn lợp lọng,
Dưới chân không ngựa lại giơ roi.
Hèn chi chúng nói bội là bạc,
Bôi mặt đánh nhau cú lại thoi.

Trên đây uct.edu.vn đã chia sẻ đến quý độc giả những thi phẩm vang danh và giàu ý nghĩa của nhà thơ Phan Văn Trị. Ông được mọi người biết đến là một nhà thơ yêu nước tài ba. Ông cảm hóa được những người lầm đường lạc lối như Lê Quang Chiểu trở về với chính nghĩa dân tộc, chống lại luận điệu bịp bợm của bọn bán nước. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi

Xem Thêm: Nhà thơ Phan Văn Trị cùng những trang thơ ấn tượng phần 1

Related posts

Nguyễn Trãi với tập thơ Ức Trai thi tập – Tập thơ chữ Hán đặc sắc P2

admin

Bùi Phổ Và Bài Thơ Kiệt Tác Vãn Thánh Tông Thuần Hoàng Đế

admin

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh cùng kho tàng thơ dịch đặc sắc nhất phần 4

admin

Leave a Comment