Thơ Hay

Tuyển chọn tập Thơ Nôm ấn tượng nhất của Hồ Xuân Hương phần 4

Trang thơ nôm của Hồ Xuân Hương được đông đảo bạn đọc yêu thích và đánh giá cao. Bà là một gương mặt nổi bật cho phong trào thơ trữ tình trào phúng. Với lối thơ đầy táo bạo, bà đã lên án và đòi quyền được yêu và hạnh phúc của người phụ nữ trong thời đại đất nước phong kiến thối nát. Ngay bây giờ, mình hãy cùng nhau khám phá về nhà thơ nổi tiếng này các bạn nhé!

Nội Dung

Hỡi chị em ơi có biết không
Một bên con khóc một bên chồng.
Bố cu lổm ngồm bò trên bụng,
Thằng bé hu hơ khóc dưới hông.
Tất cả những là thu với vén
Vội vàng nào những bống cùng bông.
Chồng con cái nợ là như thế,
Hỡi chị em ơi có biết không ?

Kén chọn làm chi thế ối anh
Lấy ai khuynh quốc lại khuynh thành
Vô duyên nên nỗi người chê Đểu
Có đẹp chăng thời gái ở tranh
Ghét mặt cục vàng ra cục đất
Tắt đèn nhà ngói bẵng nhà gianh
Thay lời mượn bút đem thư gửi
Nghĩ lại sao cho để được đành

Tiếng gà xao xác gáy trên vòm
Oán hận trông ra khắp mọi chòm
Mõ thảm không khua mà cũng cốc
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ
Sau hận vì duyên để mõm mòm
Tài tử văn nhân ai đó tá
Thân này đâu đã chịu già tom

Há dám thương đâu kẻ có chồng,
Thương vì một nỗi hãy còn không.
Thương con cuốc rũ kêu mùa Hạ,
Thương cái bèo non giạt bể Ðông.
Thương cha mẹ nhện vương tơ lưới,
Thương vợ chồng Ngâu cách mặt sông.
Ấy thương quân tử thương là thế,
Há dám thương đâu kẻ có chồng.

Thương ôi phận gái cũng là chồng
Ghét bỏ nhau chi hỡi Nguyệt ông
Rồng tắm ao tù từng phận tủi
Mưa gieo xuống giếng uổng lòng mong
Xót thân hoa nở song lầm cát
Thẹn mặt trần ai đứng giữa vòng
Âu hẳn tiền nhân sao đấy tá
Thôi đành một kiếp thế cho xong

Thương thay phận gái cũng là người
Nỡ bỏ xuân xanh quá nửa đời
Ông Nguyệt nỡ nào trêu quải mãi
Chị Hằng khéo nhẽ éo le thôi
Hoa còn phong nhụy ong ve vãy
Gió đã phai hương bướm tả tơi
Quá ngán thợ trời ghê gớm bấy
Xuân xanh được mấy chút thương ôi

Dắt díu đưa nhau đến cửa chiền
Cũng đòi học nói nói không nên
Ai về nhắn nhủ phường lòi tói
Muốn sống đem vôi quét trả đền

Tình có theo ai nhớ lấy lời
Những lời vàng đá phải lời chơi
Đường tuy nửa bước xa ngàn dặm
Duyên chửa trăm năm cũng một đời
Tần Tấn đã đành duyên gặp gỡ
Ngô Lào chi quản chuyện xa xôi
Trăng thề muôn kiếp trơ trơ đó
Tình có theo ai nhớ lấy lời

Sao nói rằng năm lại có ba?
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,
Nhớ hái cho xin nắm lá đa.

Nào nón tu lờ nào mũ thâm
Đi đâu chẳng đội để ong châm
Đầu sư há phải gì bà cốt
Bá ngọ con ong bé cái nhầm

Một chiếc thuyền nan một mái chèo
Đáy hồ đứng lặng nước trong veo
Quanh co thành cỏ đường lai láng
Chen chóc nhà thôn vẻ gấm thêu
Ngũ Xá cầu dài đường khách thẳng
Châu Long thềm rộng mái chùa cao
Đồn rằng Trúc Bạch vui hơn trước
Nay mới hay rằng lắm thú yêu

Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng
Nín đi kẻo thẹn mấy non sông
Ai về nhắn nhủ đàn em nhé
Xấu máu thời khem miếng đỉnh chung

Trải mấy thu nay vẫn hãy còn,
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?
Hỏi con Bạch Thố đà bao tuổi?
Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con?
Đêm tối cớ sao soi gác tía?
Ngày xanh còn thẹn mấy vầng tròn.
Năm canh lơ lửng chờ ai đó?
Hay có tình riêng mấy nước non?

Chiếc bách buồn về phận nổi nênh
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh
Lưng khoang tình nghĩa mong đầy đặn
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh
Chèo lái mặc ai lăm đỗ bến
Buồm lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh
Ấy ai thăm ván cam lòng vậy
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh

Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay
Mỏng dày chừng ấy chành ba góc
Rộng hẹp ngần nao cắm một cay
Càng nực bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chẳng chán lại yêu ngày
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy
Chúa dấu vua yêu một cái này

Năm ba thằng ngọng đứng xem chuông
Nó bảo nhau rằng ấy ái uông

Buổi học xong rồi cảnh vắng teo,
Đứng lên nằm xuống lại nằm mèo.
Miệng thèm sờ rượu be hôi rích,
Giọng khát tìm chè lọ mốc meo.
Trầu một vài tuần nhai bỏm bẻm,
Thuốc năm ba điếu hút phì phèo.
Ai về nhắn nhủ cô bay biết,
Cũng chẳng phong lưu cũng chẳng nghèo

Ngân ngất tầng mây một dải cờ
Kinh thành ngày trước tỉnh bây giờ
Tượng đồng Trấn Vũ hương còn ngát
Bia đá Khuê Văn chữ chửa mờ
Bảo tháp lơ thơ chòm cỏ mới
Hồ sông lai láng bóng trăng xưa
Nào ai cố lão ra đây hỏi
Chốn cũ phồn hoa đã phải chưa

Của tôi bưng bít vẫn ngùi ngùi
Nó thủng vì chưng cũng nặng dùi
Ngày vắng trên lầu dăm bảy lúc
Đêm thanh dưới gác một đôi hồi
Khi khoan chưa chán thời khi nhặt
Đánh đứng không thôi lại đánh ngồi
Nhắn nhủ ai về thương đến mấy
Thịt da ai cũng thế mà thôi

Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa
Người đồng châu trước biết bao xa
Nhật Tân đê lở nhưng còn lối
Trấn Bắc rêu phong vẫn ngấn thơ
Nọ vực Trâu Vàng trăng nhạt bóng
Kìa non Phượng Đất khói tuôn mờ
Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy
So dạ hoài nhân chửa dễ vừa

Mười hai bà mụ ghét gì nhau
Đem cái xuân tình cắm ở đâu
Rúc rích thây cha con chuột nhắt
Vo ve mặc mẹ cái ong bầu
Nào ai biết được vông hay chóc
Nọ kẻ chia ra cuống mấy đầu
Thôi thế thời thôi thôi cũng rảnh
Trăm năm càng khỏi tiếng làm dâu

Trăm năm ba vạn sáu ngàn ngày
Dẫu có ngàn vàng khó đổi thay
Trong núi ngàn năm cây vẫn có
Dưới trần trăm tuổi dễ không ai
Nghĩ đường danh lợi lòng thêm chán
Thấy kẻ gian ngoan bụng lại đầy
Đắng xót ghê thay mùi tục lụy
Bực mình theo Cuội tới cung mây

Hỡi chị Hằng Nga náu Quảng Hàn
Bốn mùa trăng gió mấy giang san
Áo tiên tuy nhuộm màu Vương Mẫu
Hương tục còn nồng lửa Hậu Lang
Mắt phượng nhớ say mùi ngọc thố
Cung Nghê sao thẹn khúc cầm loan
Nẻo không duyên nợ người cùng thế
Xin chớ dầm mình nước hợp hoan

Chấp cả hàn phong xiết cả sương,
Trước rào xum họp tấm bao vàng.
Yêu vì vãn tuyết hương càng lạ,
Lẫn với phàm hoa sắc cũng thường.
Đào lệnh nòi xưa nghe chửa hết,
Tây Thi giống trước hãy còn ương.
Yêu hoa nên hoạ người say tỉnh,
Rượu chén hoàng hoa ngẫu hứng thương.

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Tiên nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Ðôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm
Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Ði thì cũng dở ở sao xong

Mặc ai xe ngựa, mặc ai hèo,
Ngồi tựa hiên mai, vắt tréo kheo.
Bầu rót rượu tiên mời bạn cũ,
Tay nâng thuốc thánh chữa dân nghèo.
Thơ ngâm “Lương phủ” người ngoại núi,
Đàn gảy “Cao sơn” khách ngọn đèo.
Mấy thuở thái bình nay lại gặp,
Vỗ tay đua nhịp tính tình cao.

Xuất thế hồng nhan kể cũng nhiều,
Lộn vòng phu phụ mấy là kiêu.
Gậy thần Địa Tạng khi chèo chống,
Tràng hạt Di Đà để đếm đeo.
Muốn dựng cột buồm sang bến giác,
Sợ cơn sóng cả lộn dây lèo.
Ví ai quả phúc mà tu được,
Cũng giốc một lòng để có theo.

Sự này căn cớ bởi vì đâu?
Cái cắng sao mà bỗng đánh nhau.
Vác gậy bà dằn phang dưới gối,
Vớ đùi ông huýnh giáng lên đầu.
Cha căng mất vía bon lên trước,
Chú kiết kinh hồn lẩn lại sau.
Một chốc may mà mưa lại tạnh,
Vì rằng đi chữa có bồ câu.

Những trang thơ nôm của Hồ Xuân Hương luôn được mọi người yêu thích và ca ngợi. Qua đó ta càng thêm ngưỡng mộ ngòi bút tài hoa và tinh tế của bà. Đồng hành cùng uct.edu.vn để theo dõi những bài viết đặc sắc hơn nữa các bạn nhé!

Xem Thêm: Tuyển chọn tập Thơ Nôm ấn tượng nhất của Hồ Xuân Hương phần 3

Related posts

Bài thơ Duyên phận mong manh – Nhà thơ Nguyễn Đình Huân

admin

Bài thơ Cô gái Hậu Giang – Nhà thơ Nguyễn Đình Huân

admin

Bài thơ Hãy Để Quá Khứ Qua Đi – Nhà thơ Phú Sĩ

admin

Leave a Comment