Thơ Hay

Tập Thơ Chữ Hán vang danh của nhà thơ Hồ Chí Minh phần 9

Trên đây, chúng tôi sẽ dành tặng các bạn những bài thơ chữ hán đặc sắc nhất của Hồ Chí Minh. Ông là một gương mặt nổi bật trong làng thơ ca Việt Nam được người đời ca tụng và kính nể. Phần này bao gồm những bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh, bao gồm cả tập thơ Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù). Chần chờ gì nữa mà không nhanh tay chia sẻ bài viết giá trị này cho mọi người xung quanh nhỉ!

Nội Dung

太陽每早從山上,
照得全山處處紅。
只為籠前有黑影,
太陽未照到籠中。

Triêu cảnh

Thái dương mỗi tảo tòng sơn thượng,
Chiếu đắc toàn sơn xứ xứ hồng.
Chỉ vị lung tiền hữu hắc ảnh,
Thái dương vị chiếu đáo lung trung.

Dịch nghĩa

Mỗi buổi sớm, mặt trời nhô lên từ đỉnh núi
Chiếu khắp núi, nơi nào cũng đỏ rực
Chỉ vì trước nhà tù có bóng đen
Mặt trời chưa rọi được vào trong ngục

清明時節雨紛紛,
籠裡囚人欲斷魂。
借問自由何處有,
衛兵遙指辯公門。

Thanh minh

Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
Lung lý tù nhân dục đoạn hồn.
Tá vấn tự do hà xứ hữu,
Vệ binh dao chỉ biện công môn.

Dịch nghĩa

Tiết thanh minh mưa phùn dày hạt,
Trong ngục, người tù buồn đứt ruột.
Ướm hỏi: nơi nào có tự do?
Lính gác chỉ tay về phía xa: cửa công đường.

玫瑰花開花又謝,
花開花謝兩無情。
花香透入籠門裡,
向在籠人訴不平。

Vãn cảnh

Mai khôi hoa khai hoa hựu tạ,
Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình;
Hoa hương thấu nhập lung môn lý,
Hương tại lung nhân tố bất bình.

Dịch nghĩa

Hoa hồng nở hoa hồng lại tàn,
Hoa nở hoa tàn đều vô tình;
Hương thơm bay vào thấu trong ngục,
Tới kể với người trong ngục nỗi bất bình.

沒有自由真痛苦,
出恭也被人制裁。
開籠之時肚不痛,
肚痛之時籠不開。

Hạn chế

Một hữu tự do chân thống khổ,
Xuất cung dã bị nhân chế tài;
Khai lung chi thì đỗ bất thống,
Đỗ thống chi thì lung bất khai.

Dịch nghĩa

Không có tự do thực thống khổ,
Đến chuyện đi tiêu cũng bị người hạn chế;
Lúc mở cửa ngục, bụng không đau,
Đến lúc bụng đau, ngục không mở.

無端平地起波濤,
送你楊濤入坐牢。
城火池魚堪浩嘆,
而今你又咳成癆。

Dương Đào bệnh trọng

Vô đoan bình địa khởi ba đào,
Tống nhĩ Dương Đào nhập toạ lao;
“Thành hoả trì ngư” kham hạo thán,
Nhi kim nhĩ hựu khái thành lao.

Dịch nghĩa

Không dưng đất bằng bỗng nổi sóng,
Đưa anh, Dương Đào, vào ngồi tù;
“Cháy thành vạ lây”, đáng thở than biết mấy,
Mà nay, anh lại mắc chứng lao.

茫茫長夜不能眠,
我做囚詩百幾篇。
做了一篇常擱筆,
從籠門望自由天。

Bất miên dạ

Mang mang trường dạ bất năng miên,
Ngã tố tù thi bách kỷ thiên;
Tố liễu nhất thiên thường các bút,
Tòng lung môn vọng tự do thiên.

Dịch nghĩa

Đêm dài mênh mang không ngủ được,
Ta làm thơ tù đã hơn trăm bài;
Làm xong mỗi bài thường gác bút,
Trông qua cửa tù, ngóng trời tự do.

久天下雨一天晴,
可恨天公沒有情。
鞋破路泥污了腳,
仍須努力向前行。

Cửu vũ

Cửu thiên hạ vũ, nhất thiên tình,
Khả hận thiên công một hữu tình!
Hài phá, lộ nê, ô liễu cước,
Nhưng tu nỗ lực hướng tiền hành.

Dịch nghĩa

Chín ngày mưa, một ngày tạnh,
Đáng giận ông trời thật vô tình!
Giày rách, đường lầy, lấm cả chân,
Nhưng vẫn phải gắng sức đi lên phía trước.

蒼天有意挫英雄,
八月消磨梏桎中。
尺壁寸陰真可惜,
不知向口出牢籠。

Tích quang âm

Thương thiên hữu ý tỏa anh hùng,
Bát nguyệt tiêu ma cốc trất trung;
Xích bích thốn âm chân khả tích,
Bất tri hà nhật xuất lao lung.
Dịch nghĩa
Trời xanh cố ý hãm anh hùng
Tám tháng đã mòn mỏi trong chốn gông cùm;
Tấc bóng nghìn vàng, thật đáng tiếc,
Chẳng biết ngày nào thoát khỏi vòng lao tù?

百折不回向前進,
辜臣孽子義當然。
決心苦幹與硬幹,
自有成功的一天。

Độc Tưởng công huấn từ

Bách chiết bất hồi, hướng tiền tiến,
Cô thần nghiệt tử, nghĩa đương nhiên;
Quyết tâm, khổ cán dữ ngạnh cán,
Tự hữu thành công đích nhất thiên.

Dịch nghĩa

Trăm nghìn gian khó không lùi, vẫn cứ tiến,
Phận tôi con bơ vơ nhà tan nước mất, cái nghĩa phải như vậy;
Quyết tâm gắng gỏi và kiên nghị,
Ắt sẽ có một ngày thành công.

昔日麾軍湘浙地,
今年抗敵緬滇邊。
顯赫威名寒敵膽,
為公預誦凱旋篇。

Lương Hoa Thịnh tướng quân thăng nhậm phó tư lệnh

Tích nhật huy quân Tương, Chiết địa,
Kim niên, kháng địch Miến, Điền biên;
Hiển hách, uy danh hàn địch đởm,
Vị công dự tụng khải toàn thiên.

Dịch nghĩa

Ngày trước chỉ huy quân đội ở đất Tương và Chiết,
Năm nay chống giặc nơi biên giới Miến và Điền;
Uy danh lừng lẫy làm kẻ thù mất mật,
Vì ông ca trước khúc khải hoàn.

幼兒學也壯兒行,
上忠黨國下忠民。
儉勤勇感和廉正,
無附梁公教育情。

Tặng Tiểu Hầu (Hải)

Ấu nhi học dã, tráng nhi hành,
Thượng trung đảng, quốc, hạ trung dân;
Kiệm cần, dũng cảm hòa liêm chính,
Vô phụ Lương công giáo dục tình.

Dịch nghĩa

Bé thì phải học, lớn lên sẽ thực hành,
Trên trung với đảng và nước, dưới trung với dân;
Cần kiệm, dũng cảm và liêm chính,
Chớ phụ cái tình dạy dỗ của ông Lương.

熊到山峰晚十點,
蟲聲断續慶秋來。
囚人不管秋來未,
只管囚籠何時開。
去歲秋初我自由,
今年秋首我居囚。
倘能裨益吾民族,
可說今秋值去秋。

Thu cảm

Hùng đáo sơn phong vãn thập điểm,
Trùng thanh đoạn tục khánh thu lai;
Tù nhân bất quản thu lai vị,
Chỉ quản tù lung hà thời khai.
Khứ tuế thu sơ ngã tự do,
Kim niên thu thủ ngã cư tù;
Thảng năng tì ích ngô dân tộc,
Khả thuyết kim thu trị khứ thu.

Dịch nghĩa

Sao Bắc Đẩu lên đến đỉnh núi đã mười giờ đêm,
Tiếng trùng đứt nối mừng thu sang;
Người tù chẳng kể thu sang hay chưa,
Chỉ cần biết cửa tù ngày nào mở.
Đầu thu năm ngoái ta tự do,
Đầu thu năm nay ta ở tù;
Ví bằng giúp ích được cho dân tộc,
Thì có thể nói, thu nay cũng sánh ngang thu trước.

從前送飯天天早,
現在開餐遲又遲。
況復時間不一定,
十十一或十二時。

Nhân đỗ ngã

Tòng tiền tống phạn thiên thiên tảo,
Hiện tại khai xan trì hựu trì;
Huống phục thời gian bất nhất định,
Thập, thập nhất, hoặc thập nhị thì.

Dịch nghĩa

Trước đây ngày ngày đưa cơm rất sớm,
Bây giờ, bữa ăn đã muộn lại càng muộn;
Huống chi lại thêm thời gian không nhất định,
Lúc thì mười giờ, lúc lại mười một, hoặc mười hai giờ.

一年只見兵和警,
今日看見儒雅人。
雅人使我心興奮,
我髮黑反兩三分。

Trần khoa viên lai thám

Nhất niên chỉ kiến binh hòa cảnh,
Kim nhật khan kiến nho nhã nhân;
Nhã nhân sử ngã tâm hưng phấn,
Ngã phát hắc phản lưỡng tam phân.

Dịch nghĩa

Quanh năm chỉ thấy lính và cảnh sát,
Hôm nay mới nhìn thấy người nho nhã;
Người nho nhã khiến lòng ta phấn chấn,
Tóc ta đen trở lại hai ba phần.

頃乘主任送書來,
讀罷精神覺頓開。
領袖偉言如在耳,
天邊轟動一聲雷。

Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư

Khoảnh thừa chủ nhiệm tống thư lai,
Độc bãi tinh thần giác đốn khai;
Lãnh tụ vĩ ngôn như tại nhĩ,
Thiên biên oanh động nhất thanh lôi.

Dịch nghĩa

Vừa rồi được Chủ nhiệm đưa sách đến cho,
Đọc xong, thấy tinh thần đột nhiên mở mang;
Lời lãnh tụ như còn vẳng bên tai,
Khác nào một tiếng sấm ầm vang nơi chân trời.

久閑兩腳軟如綿,
今試行行屢欲顛。
片刻已聞班長喊,
返來不准再遲延。

Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động

Cửu nhàn lưỡng cước nhuyễn như miên,
Kim thí hành hành lũ dục điên;
Phiến khắc dĩ văn Ban trưởng hám:
“Phản lai, bất chuẩn tái trì diên”.

Dịch nghĩa

Nhàn rỗi lâu ngày, hai chân mềm như bông,
Nay mới đi thử vài bước đã lảo đảo mấy lần chực ngã;
Chốc lát đã nghe Ban trưởng quát:
“Quay lại! Không được rềnh ràng nữa!”.

門前衛士執槍立,
天上殘雲傍月飛。
木虱縱橫如坦克,
蚊虫聚散似飛機。
心懷故國千塘路,
梦繞新愁萬縷絲。
無罪而囚已一載,
老夫和淚寫囚詩。

Thu dạ (I)

Môn tiền vệ sĩ chấp thương lập,
Thiên thượng tàn vân bạng nguyệt phi;
Mộc sắt tung hoành như thản khắc,
Mân trùng tụ tán tự phi ky;
Tâm hoài cố quốc thiên đường lộ,
Mộng nhiễu tân sầu, vạn lũ ti;
Vô tội nhi tù dĩ nhất tải,
Lão phu hòa lệ tả tù thi.

Dịch nghĩa

Trước cửa lính gác bồng súng đứng,
Trên trời đám mây tàn bay bên vầng trăng;
Lũ rệp bò ngổn ngang như xe tăng,
Đàn muỗi lúc tụ lúc tán như máy bay;
Lòng nhớ cố quốc cách xa nghìn trùng,
Giấc mộng vấn vương mối sầu mới như vạn mối tơ;
Vô tội mà ở tù đã một năm nay,
Già này hoà nước mắt viết thơ tù.

事物循環原有定,
雨天之後必晴天。
片時宇宙解淋服,
萬里山河晒錦氈。
日暖風清花帶笑,
樹高枝潤鳥爭言。
人和萬物都興奮,
苦盡甘來理自然。

Tình thiên

Sự vật tuần hoàn nguyên hữu định,
Vũ thiên chi hậu tất tình thiên;
Phiến thì vũ trụ giải lâm phục,
Vạn lý sơn hà sái cẩm chiên;
Nhật noãn phong thanh hoa đới tiếu,
Thụ cao chi nhuận điểu tranh nghiên;
Nhân hoà vạn vật đồ hưng phấn,
Khổ tận cam lai, lý tự nhiên.

Dịch nghĩa

Sự vật vần xoay vốn định sẵn,
Sau ngày mưa tất đến ngày nắng;
Trong chốc lát, vũ trụ đã cởi bộ áo ướt,
Muôn dặm non sông phơi màu chăn gấm;
Trời ấm, gió nhẹ, hoa chúm chím cười,
Cây cao, cành mượt, chim đua hót;
Người cùng muôn vật đều phấn chấn,
Hết khổ đến sướng là lẽ tự nhiên.

古詩偏愛天然美,
山水煙花雪月風。
現代詩中應有鐵,
詩家也要會衝鋒。

Khán “Thiên gia thi” hữu cảm

Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ,
Sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong;
Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong.

Dịch nghĩa

Thơ xưa nghiêng về yêu cảnh đẹp thiên nhiên,
Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió;
Trong thơ thời nay nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

樹梢巧畫張飛像,
赤日長明關羽心。
祖國終年無信息,
故鄉每日望回音。

Tức cảnh

Thụ sao xảo họa Trương Phi tượng,
Xích nhật trường minh Quan Vũ tâm;
Tổ quốc chung niên vô tín tức,
Cố hương mỗi nhật vọng hồi âm.

Dịch nghĩa

Ngọn cây khéo vẽ hình Trương Phi,
Mặt trời hồng sáng mãi lòng Quan Vũ.
Tổ quốc suốt năm không tin tức,
Mong thư trả lời của quê nhà hàng ngày.

幸晤英明侯主任,
而今又是自由人。
獄中日記從今止,
深謝侯公再造恩。

Kết luận

Hạnh ngộ anh minh Hầu Chủ nhiệm,
Nhi kim hựu thị tự do nhân;
Ngục trung nhật ký tòng kim chỉ,
Thâm tạ Hầu công tái tạo ân.

Dịch nghĩa

May mắn gặp được Chủ nhiệm họ Hầu sáng suốt,
Mà nay ta lại là người tự do;
Nhật ký trong tù chấm dứt từ đây,
Cảm tạ khôn xiết công ơn tái tạo của ông Hầu.

百折不回向前進,
辜臣孽子義當然。
決心苦幹與硬幹,
自有成功的一天。

Độc Tưởng công huấn từ

Bách chiết bất hồi, hướng tiền tiến,
Cô thần nghiệt tử, nghĩa đương nhiên;
Quyết tâm, khổ cán dữ ngạnh cán,
Tự hữu thành công đích nhất thiên.

Dịch nghĩa

Trăm nghìn gian khó không lùi, vẫn cứ tiến,
Phận tôi con bơ vơ nhà tan nước mất, cái nghĩa phải như vậy;
Quyết tâm gắng gỏi và kiên nghị,
Ắt sẽ có một ngày thành công.

Trên đây, chúng tôi đã dành tặng các bạn những bài thơ tuyệt vời của nhà thơ Hồ Chí Minh. Qua đó ta cảm nhận được ngòi bút tài hoa và độ độc đáo trong phong cách thơ của ông. Hiện nay, những trang thơ ấy vẫn vẹn nguyên giá trị và được ca ngợi mạnh mẽ. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Xem Thêm: Tập Thơ Chữ Hán vang danh của nhà thơ Hồ Chí Minh phần 8

Related posts

Tuyển tập thơ về rượu hay, hài hước làm thức tỉnh mọi người

admin

Khám phá những bài thơ tỏ tình vui nhộn cười thả ga

admin

Chiều sông thương (Hữu Thỉnh) – Tác phẩm ấn tượng, đặc sắc nhất

admin

Leave a Comment